Tham luận của NB Đào Tuấn (Báo Lao động)

“Hệ số rủi ro” trong việc thông tin, phân tích chính sách trên báo chí

Hệ số rủi ro

Ngày 23 tháng 10 năm 2008, Lãnh đạo ban biên tập báo Đại Đoàn Kết chính thức bị kỷ luật. Trong số những bài báo được đưa ra để kiểm điểm và đóng vai trò nguyên nhân, rất đáng chú ý là bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một vị khai quốc công thần phản đối việc phá bỏ Hội trường Ba Đình và xây dựng toà nhà Quốc hội mới trên khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Lời giới thiệu của tòa soạn khi ấy viết rằng lá thư của tướng Giáp bị các báo từ chối, nhưng Đại Đoàn Kết quyết định công bố để “giải toả những bức bối từ các vị cán bộ lão thành và nhiều bạn đọc có quan tâm”. Một trong những vấn đề mà TBT báo Đại Đoàn Kết Lý Tiến Dũng phải kiểm điểm bấy giờ còn là việc ông đã  gửi đơn bảo vệ việc đăng bài của tướng Giáp và phê phán thái độ không bình thường của Ban Tuyên Giáo Trung Ương.

Một năm sau đó, Tháng 9-2009, trang tin điện tử Tia sáng online bị đình bản, bị xóa bỏ tên miền. Nhiều người nghĩ nguyên nhân trực tiếp là từ một bài viết về giáo dục của GS Hoàng Tụy với nhan đề: Giáo dục, xin cho tôi nói thẳng. (Trong bài viết trên, giáo sư Hòang Tụy đã đề cập cực kỳ thẳng thắn về 3 vấn đề: Giáo dục sa sút không phải vì thiếu tiền mà vì quản lý kém; Cần cải cách có hệ thống chứ không phải đổi mới vụn vặt và Giáo dục không phải là phòng thí nghiệm).

Một điều cần phải khẳng định, những bài báo này hoàn toàn không sai. Vấn đề ở chỗ, quan điểm của chúng được coi là khác, so với quan điểm mà nhiều người cho là chính thống.

Đây chỉ là 2 trong vô số các ví dụ mà những người làm báo tự hiểu, tự coi là “hệ số rủi ro” khi viết và công bố những góp ý, hay còn gọi là phản biện đối với các chủ trương, chính sách, đề án dù về mặt nguyên tắc, bất cứ một công dân nào cũng có quyền góp ý ngay cả khi chính sách, đề án đã được thực thi trong thực tế.

Có lẽ, chính vì có “hệ số rủi ro”, nếu không nói “hệ số rủi ro” rất lớn, cho nên, trong đợt góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp đang diễn ra, chúng ta có thể đọc những bài “Bỏ điều 4 hiến pháp đe dọa tồn vong của dân tộc”, trong khi không hề có những quan điểm ngược lại trên báo chí.

Trường hợp Hiến pháp sửa đổi

Nghị quyết 38 về việc lấy ý kiến nhân dân góp ý vào Hiến pháp, đạo luật được coi là “mẹ của các luật” có nói đến việc báo chí mở chuyên trang, chuyên mục và đóng vai trò cầu nối để nhân dân tham gia góp ý xây dựng đạo luật cơ bản này.

Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của QH Phan Trung Lý đã có lời khẳng định: “Nhân dân có thể cho ý kiến đối với điều 4 Hiến pháp như với tất cả các nội dung khác trong dự thảo, không có gì cấm kỵ cả”.

Điều 4 Hiến pháp 1992 quy định về sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng.

Hiểu đúng tinh thần những gì mà Trưởng Ban biên tập Dự thảo Hiến pháp sửa đổi thì có nghĩa là người dân có quyền đóng góp vào toàn bộ nội dung bản hiến pháp sửa đổi, không có vùng cấm, cũng chẳng phải lo phạm, kỵ gì cả.

Nhìn chung, có nhiều “đất” để người dân đóng góp. Chẳng hạn đó “khoảng trống” mà Ban biên tập hoàn toàn không vô ý quên, khi bỏ đi quy định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Hoặc các thiết chế mới, không khó để nhận thấy rằng sẽ nhận được sự ủng hộ của người dân: Thiết chế Hội đồng Hiến pháp với nhiệm vụ phát hiện các vi phạm Hiến pháp, đặc biệt trong các văn bản quy phạm pháp luật; Thiết chế Hội đồng bầu cử quốc gia, để tạo ra sự độc lập trong vấn đề bầu cử. Và Kiểm toán Nhà nước, cơ quan về nguyên tắc là sẽ độc lập hoàn toàn với hành pháp…

Tuy  nhiên, như đã nói ở trên, chúng ta có thể đọc những bài “Bỏ điều 4 hiến pháp đe dọa tồn vong của dân tộc”, trong khi hoàn toàn không có những ý kiến phản biện theo chiều hướng ngược lại trên báo chí chính thống.

Không khó để lý giải nguyên nhân. Trong chỉ thị (số 22-CT/TW) về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Bộ Chính trị lưu ý các cấp ủy Đảng, tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân các cấp: Quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai (Nghị quyết 2) và kết luận Hội nghị lần thứ năm (Nghị quyết TƯ5) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Nghị quyết của Quốc hội. Nghị quyết 2 khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Về kinh tế, Nghị quyết cũng khẳng định:  Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa …. Còn TƯ 5, khẳng định lớn nhất là vấn đề sở hữu đất đai “thuộc sở hữu toàn dân”.

Trên báo Pháp luật TP,  Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý Bộ Tư Pháp, GS TS Lê Hồng Hạnh có lần nói: Hội nghị Trung ương 5 đã tái khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên dự thảo sửa đổi HP 1992 cũng quy định như vậy.

Vấn đề không thể không đặt ra là nếu “không có gì phải cấm kỵ”, chắc chắn sẽ ó những ý kiến khác với các kết luận của Nghị quyết 2 và Nghị quyết TƯ 5.

Trong tất cả các bản Hiến pháp, đều gì nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, một trong những quyền cơ bản của người dân. Và việc thực hiện cụ thể nhất, sinh động nhất, chính là việc để người dân được tự do thể hiện trong việc đóng góp cho hiến pháp sửa đổi.

Nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, người dân có quyền, một cách trực tiếp, đóng góp ý kiến để xây dựng đạo luật gốc, luật mẹ của các luật. Và có lẽ, để việc đóng góp thực sự là phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân, tạo sự đồng thuận của nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong việc sửa đổi Hiến pháp thì không nên đặt ra bất cứ một chữ “tuy nhiên” nào, không nên đặt ra một vấn đề “húy kỵ” nào.

Riêng đối với báo chí, các Ban biên tập và các nhà báo hiểu điều gì xảy ra, và có lẽ không phải chỉ là vấn đề rủi ro, nếu ngây thơ thực hiện đúng những gì mà Trưởng Ban biên tập Hiến pháp sửa đổi Phan Trung Lý đã từng tuyên bố.

Một nhân dân nào đó

Điều 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 quy định rõ: Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia góp ý kiến về dự thảo văn bản; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Ý kiến tham gia về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo.

Nghị định 24/2009 hướng dẫn thi hành quy định rất rõ trong hồ sơ quy phạm nhất thiết cần có Báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản.

Trong thực tế, chúng ta rất khó biết nhân dân nào được lấy ý kiến dù họ là những đối tượng bị tác động trực tiếp bởi chính sách.

Xin được nêu 2 ví dụ: Nghị định 94/2012 về sản xuất và kinh doanh rượu (có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2013), nghị định mà người dân vẫn gọi là “rượu dán tem” và thông tư 30 của Bộ Y tế về “Điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố” (quét thức ăn đường phố). Trong ngày khi nghị định 94 và thông tư 30 chính thức có hiệu lực, báo chí đã có những bài báo ghi nhận ý kiến của những người nấu rượu “không tem” cũng như bà con kinh doanh đường phố. Câu trả lời phổ biến là “Không biết”.

ĐBQH Ngô Văn Minh bình luận nguyên nhân của việc các chính sách bị nhân dân phản đối và rất thiếu khả thi trong thực tế vừa là do quan liêu, vừa là do trình độ của những người soạn thảo chính sách. Kể cả người thẩm định các văn bản. Ý kiến ông Minh nguyên văn như sau:

“Tôi từng ví việc làm ra những văn bản trái luật, thiếu thực tế là ngồi trên trời mà làm chính sách. Ví dụ, có không ít bộ, ngành luôn khẳng định rằng khi ban hành văn bản này chúng tôi đã lấy ý kiến người dân, lấy ý kiến đối tượng có liên quan. Nhưng hỏi ra mới biết họ chỉ đăng dự thảo văn bản đó trên website của bộ, ngành mình. Tôi quả quyết cả tôi và bạn đều không thể biết rằng thời điểm hiện tại có bao nhiêu văn bản đang được lấy ý kiến nhân dân. Người bán hàng ngoài chợ, người nấu rượu truyền thống trong bếp thì làm sao có máy tính, có mạng Internet để biết mà góp ý cho các dự thảo có quy định thịt lợn chỉ được bán trong vòng tám tiếng, sản xuất rượu thủ công phải xin giấy phép và dán nhãn…

ĐBQH Ngô Văn Minh kiến nghị: Cần phải thay đổi lại quy trình lấy ý kiến nhân dân, đối tượng chịu sự tác động trước khi ban hành văn bản. Việc lấy ý kiến phải tiến hành rộng rãi, có hiệu quả, đúng đối tượng và đặc biệt là người soạn thảo văn bản phải thực tâm tiếp thu, chứ không phải là làm cho đủ thủ tục.

Trong hai ví dụ trên, tự câu trả lời với 2 từ “Không biết” đang cho thấy việc lấy ý kiến đối tượng bị tác động trực tiếp đang gần như bị cho qua. Và thực tế, người dân chỉ có quyền có ý kiến thông qua báo chí sau khi các văn bản quy phạm đã có hiệu lực.

Vấn đề chính sách hoàn toàn không khô khan. Người dân cũng không hề thờ ơ với chính trị. Nhất là khi những chính sách đó đụng chạm đến đời sống của họ. Thực tế trong nhiều năm qua, báo chí đặc biệt quan tâm tới các dự thảo chính sách. Nhưng điều dễ nhận thấy, báo chí chỉ phản biện mạnh mẽ đối với các chính sách hoặc các khía cạnh liên quan đến dân sinh. Và ở khía cạnh khiêm tốn này, báo chí mới chứng tỏ được vai trò là diễn đàn của nhân dân trong việc góp ý cho các chính sách, các dự án luật, văn bản quy phạm.

Không khó để nhìn nhận vai trò của báo chí trong việc phản biện lại điều mà ĐBQH Ngô Văn Minh nói “ngồi trên trời là làm chính sách”. Đó là quy định của Bộ Nông nghiệp về “chó mèo chính chủ”, về “Thịt tươi chỉ được bán không quá 8h”. (Bộ trưởng Cao Đức Phát sau đó cũng phải cho rằng: Phải đưa ra được quy định sát với thực tế, khả thi, giảm thiểu tác động tiêu cực đến hoạt động của doanh nghiệp, và phải có bước đi phù hợp, chứ nóng vội quá cũng không được). Hay quy định “Phạt nặng xe không chính chủ”. “Viếng đám ma không quá 7 vòng hoa, không được để ô kính trên nắp quan tài”…

Không có ý kiến đóng góp nào

Trang tin điện tử của các Bộ, website Chính phủ đều có mục lấy ý kiến nhân dân góp ý cho các văn bản quy phạm.

Lấy ví dụ từ việc lấy ý kiến của Bộ TT và TT. Hiện trên website của Bộ đang lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo quyết định của Thủ tướng CP về việc phát hành tạp chí Cộng sản qua mạng bưu chính viễn thông; Dự thảo NĐ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản và thông tin điện tử; đặc biệt là Dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Tổng cộng có 4 dự thảo lấy ý kiến góp ý và 5 dự thảo đã hết hạn lấy ý kiến.

Điều đáng nói là toàn bộ đều “Hiện tại không có ý kiến đóng góp nào”, cả dự thảo hết hạn lẫn dự thảo còn hạn.

Một trường hợp khác là Luật biển. Ngày 21-6-2012, Quốc hội đã thông qua dự án luật này. Và phải đến thời điểm đó, ngoài các vị ĐBQH thì số ít PV nghị trường mới là những người đầu tiên được tiếp xúc với dự án luật.

Hoàn toàn không có văn bản dự thảo trên website của Bộ Ngoại giao. Trường hợp luật Biển có thể là một cá biệt, nhưng phản ánh một điều không cá biệt là nhân dân không được lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo các văn bản luật, dù người thực thi luật, hay chính sách, không ai khác, chính là nhân dân.

Với những trường hợp thế này, các nhà báo thật không biết làm thế nào để làm nổi vai trò diễn đàn của nhân dân./.